Marketing cho ngành Nha Khoa
I.Đặc thù
- Nha khoa cũng là một trong những ngành nghề thuộc
ngành y, nguyên lý và phác đồ điều trị liên quan trực tiếp đến cơ thể bệnh
nhân, cảm xúc bệnh nhân, tài chính trước , trong, sau khi điều trị, vì thế
ngành y dược luôn là được người bệnh lựa chọn kỹ lưỡng hoặc dựa trên tiêu chí
đánh giá uy tín, không xảy ra tình trạng sơ suất hay cố ý làm tổn hại đến người
bệnh , chưa kể đến các vấn đề giá thành và uy tín người trực tiếp điều trị
-Trước khi có những cơ sở y tế tư nhân thì đa phần người
bệnh hoặc người có nhu cầu điều trị bệnh tật thường đến các cơ sở y tế, bệnh viện trung ương, thầy thuốc
tại khu vực địa phương được đánh giá là uy tín, có thành công điều trị một số
ca điển hình.
-Sau khi mở cửa cho y tế tư nhân phát triển , bắt đầu
tư việc cấp, bán thuốc tư nhân đến việc thăm khám chữa bệnh tư nhân đã phát triển,
tạo ra một nền kinh tế y dược theo thời “ Kinh Tế Mở Cửa “Điều này vô hình
chung cũng tạo ra một loạt các cơ sở y tế tư nhân nở rộ, bắt đầu tư việc các
bác sỹ trong bệnh viện về hưu mở phòng khám tư nhân đến việc các bác sỹ tốt
nghiệp ra trường có điều kiện về kinh tế cũng mở dịch vụ nhằm cung cấp các dịch
vụ khám và chữa bệnh cho bệnh nhân tại khu vực lưu trú sở tại.
-Hiện công tác quản lý và giám sát các cơ sở y tế tư nhân
chưa được làm rốt ráo do nền kinh tế mở rộng cũng như việc giao lưu văn hóa,
KHKT với các chuyên gia nước ngoài tăng mạnh khiến cho tình hình phát triển
ngành y dược theo cơ chế thị trường đặc trưng lộ rõ.Điều đó cũng có nghĩa là
các cơ sở, đơn vị kinh doanh khám và cấp phát thuốc chữa bệnh, đặc biệt là về
nha khoa đang tự hào, tự PR theo tiêu chí tìm kiếm và lôi kéo KH về trung tâm bằng
việc sử dụng ngân sách truyền thông một cách mạnh mẽ.
-Một số các bệnh viện trực thuộc trung ương ( nhà nước
chưa ưu tiên phát triển bệnh viện tư nhân – trong tương lai sẽ có đề án phát
triển bệnh viện tư nhân giống như các trường học tư thục ) sẽ áp dụng các
phương thức truyền thông chính thống lẫn truyền thông Digital để tiếp tục khẳng
định vị thế uy tín của mình trong tư tưởng khám và cấp phát thuốc chữa bệnh.
II.Phương án giải quyết
*Căn cứ vào tình hình và quan điểm cũng như lập luận
trên ta có thể dựa vào một số tiêu chí để vận hành và phát triển:
1.Tăng sự uy tín cho trung tâm, dịch vụ bằng việc sử dụng
thế mạnh truyền thông chính thống.
-Việc tăng uy tín cho trung tâm, cơ sở y khoa luôn phụ
thuộc vào việc các đơn vị truyền thông nói gì về cơ sở ( tốt hay xấu ), đánh
giá từ bênh nhân đã từng điều trị tại cơ sở, tốt hay xấu. Vì thế trong quá
trình hình thành và phát triển, việc sử dụng các đơn vị truyền thông chính thống
( Truyền hình địa phương, truyền hình toàn quốc, báo, đài địa phương, báo đài
toàn quốc ) là một hoạt động không thể thiết trong nghiệp vụ quan hệ đối ngoại
trong nghiệp vụ truyền thông cho cơ sở.
2.Tăng uy tín và kinh nghiệm của cá nhân hoặc tập thể
bác sỹ, ca kíp thành công
-Có thể sử dụng 1 cá nhân chính hoặc e kíp tập thể
khám chữa bệnh thành công và uy tín để làm hạt nhân lan tỏa , đôi khi cũng có
thể sử dụng hình ảnh chuyên gia nước ngoài ( nếu thấy thật sự cần thiết ) để PR
theo hướng chuyển dịch mối quan tâm từ cá nhân ( nhân hiệu ) về thương hiệu (
trung tâm sở hữu cá nhân xuất sắc ). Muốn làm tốt điều này cần có một số nghiệp
vụ truyền thông theo chiến lược nhân hiệu lan tỏa
-Sử dụng tư liệu hình ảnh, clip đánh giá ( mặc dù về
nguyên tắc quản lý truyền thông ngành y dược không được phép sử dụng người bệnh
PR cho trung tâm )
3.Giải quyết tính tức thời tại thời điểm bệnh nhân
mong muốn , thắc mắc cũng như các vấn đề liên quan đến khám, chữa bệnh trực tiếp
-Giải quyết tính tức thời khi bệnh nhân phát sinh nhu
cầu( hình thức Trade marketing ) bằng cách sử dụng các điểm Pr, giải đáp thắc mắc
khách hàng tại một số tụ điểm công cộng, hoặc sự kiện thường niên, theo quý hay
theo chương trình sự kiện cụ thể. Tuy nhiên, việc duy trì nhân sự tại một số điểm hoặc trên toàn bộ điểm PR là không được liên
tục do các yếu tố về kinh tế, nhân sự cũng như tính chuyển đổi cho từng thời kỳ.
Vì thế cần cân đối và phát triển cũng như tạo ra các chương trình liên kết, gắn kết cho các điểm hợp
lý.
-Tùy theo chiến lược phát triển của từng cơ sở và hoạt
động nổi bật mà có thể nhắm chọn các thị trường mục tiêu và duy trì sự hiện hữu
các hình ảnh của mình tại đó.
4.Giải quyết được vấn đề lo ngại của bệnh nhân về các
vấn đề như tâm sinh lý trước, trong và sau khi khám chữa bệnh, vấn đề về tài
chính cũng như các vấn đề liên quan đến cảm xúc sau khi điều trị.
-Giải quyết vấn đề lo ngại của bệnh nhân về các vấn đề
như tâm sinh lý lo sợ xảy ra đột biến trong quá trình điều trị ( như đau, ảnh
hưởng sau này, độ thành công của pháp đồ điều trị…) hay chính sách chữa và cấp
phát thuốc, chữa bệnh ( thường 60% người dân đang sử dụng chính sách khám và chữa
bệnh theo BHXH hay BHYT ) do quá trình tích lũy từ trước cũng như tư duy tiết
kiệm chi phí khám chữa bệnh.Điều này cũng khiến cho các cơ sở y tế tư nhân chưa
thu hút được phần lớn bệnh nhân thuộc diện BHYT, BHXH do đặc thù đầu tư cũng
như do áp dụng một số phương pháp chuyển giao khoa học tân tiến.
-Ở một số cơ sở y tế tư nhân áp dụng hình thức trả
sau, hoặc trả dần , trả góp khi liên kết với ngân hàng, tập đoàn tài chính giảm
giảm tải tâm lý lo ngại trong chi phí điều trị. Điều này được đánh giá là khá
hiệu quả tuy nhiên mức độ vẫn chưa được người bệnh quan tâm do một số quy định
của công ty tài chính.
..............
..............












